Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta hiện nay

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn.

 Xem thêm: 

>> Thực trạng ô nhiễm môi trường vùng Tây Nam Bộ

>> tư vấn môi trường, xử lý môi trường, phân tích môi trường

          

         Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.

 

         Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận... Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.

 ô nhiễm tại các khu công nghiệp

Tình trạng ô nhiễm các các khu công nghiệp. Ảnh minh họa

        Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp... Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt.

 

        Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.

 

Ô nhiễm tại các làng nghề

Các làng nghề tự phát gây ô nhiễm môi trường. (hình minh họa)

 

        Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn... Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí môi trường nào nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc. Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động. Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất. Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu Á về mức độ ô nhiễm bụi.

 

Ô nhiễm tại các thành phố lớn

Tình trạng ô nhiễm ở các thành phố lướn đang là bài toán khó giải.

Theo  Bộ TNMT

 

 

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2016

Thời gian ngủ

Để tính toán được thời gian ngủ chưa đủ, các nhà nghiên cứu đã tiến hành trắc nghiệm điện tâm đồ và hành vi của người được thí nghiệm.
Ví dụ, trong thời gian 5 phút bắt họ nhớ số đếm hoặc làm họ nhớ lại một bài văn ngắn đã được đọc qua, từ đó phát hiện thấy những người thiếu ngủ sẽ xuất hiện những thiếu sót;
Hành vi và khả năng nhớ của họ giảm sút, khả năng tập trung ý chí và năng lực phán đoán cũng giảm đi, những người này cũng hay có thiếu sót về độ nhạy cảm thời gian và độ tư duy. Do đó, những người thiếu ngủ rất dễ ảnh hưởng đến việc học tập.
Những người thiếu ngủ ban đêm thường bị ảnh hưởng đến tinh thần ban ngày, do đó đối với những người lao động trí óc sẽ mất đi hiệu quả giải quyết công việc.
Tình trạng tồi tệ hơn là thời gian mất ngủ càng ngày càng tăng. Những người mà thời gian ngủ ban đêm ít hơn 90 phút so với lượng thời gian ngủ cần thiết thì ngày thứ sáu luôn thấy mệt mỏi hơn ngày thứ ba.
Trong 5 ngày bạn mất đi 7 tiếng rưỡi thời gian ngủ thì thực tế đã mất đi thời gian ngủ của một đêm. Cần biết rằng, trong tình trạng mất ngủ nhiều ngày cần phải chuyển sang ngủ đầy đủ, không cần phải cố gắng tính từng tuần.
Bình thường một ngày phải ngủ từ 7 ~ 9 tiếng. Các chuyên gia khuyên rằng, đầu tiên phải xác định lịch ngủ phù hợp, sau đó mất thời gian hơn 10 ngày để nghiên cứu hệ thống thời gian ngủ có thích hợp hay không.
Nếu sáng sớm mỗi ngày bạn thấy tinh thần và trí lực dồi dào. Ban ngày có thể tập trung tinh thần và sức lực để học tập, vậy thì thời gian ngủ như vậy là tương đối lý tưởng.
Nếu bạn phải dùng đồng hồ báo thức để biết giờ hoặc làm một việc như vậy, khi công việc yên tĩnh hoặc nhiều và nặng nề đều cảm thấy mệt mỏi chán nản, vậy thì mỗi đêm hãy ngủ thêm 30 ~ 90 phút.
Nếu ngày nào bạn cũng không thể làm thế này thì cũng có thể ngủ nhiều hơn một chút vào mỗi ngày cuối tuần để bổ sung thêm thời gian thiếu ngủ của bạn.
Các chuyên gia cũng khuyên các bạn chân thành rằng: thời gian ngủ và ngủ muộn hơn một chút không tốt bằng ngủ sớm hơn một chút.
Nếu bạn không làm được điều này, vậy thì mỗi chiều thứ bảy hoặc chủ nhật hãy ngủ gật trong vòng 1 tiếng hoặc chưa đầy một tiếng.